Trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để bổ sung vitamin nhóm B?
Vitamin nhóm B là dưỡng chất không thể thiếu trong quá trình phát triển của trẻ. Nhưng trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để có thể nhận đủ các dưỡng chất này? Bài viết dưới đây sẽ giúp ba mẹ trả lời câu hỏi trên cũng như vai trò của nhóm vitamin này
Trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để bổ sung Vitamin B5
Nguồn gốc thực phẩm chủ yếu của axit panthotenic là các loại thịt (tim, gan, thận có hàm lượng axit này hết sức phong phú), nấm, trứng gà, xu hào cải bắp. Trong đó, hàm lượng axit panthotenic trong gan, thận, lòng đỏ trứng gà, xúp lơ cải bắp ít nhất cũng đạt 50 àg/ trên lg trọng lượng. Ngũ cốc cũng là thực phẩm có nguồn Axit Panthotenic phong phú, nhưng trong quá trình chế biến thức ăn phần lớn chúng bị mất đi.
Nguồn gốc thiên nhiên phong phú nhất của Axit Panthotenic là mật ong chúa đặc, nước mắm cá thu, chúng chứa hàm lượng Axit Panthotenic tương đối cao (mật ong chúa đặc là 511 àg/g, nước mắm cá thu là 2,32 mg/g; sữa công thức cũng chứa hàm lượng Axit Panthotenic phong phú với 2,2 - 11,2ml/ lít (48 -245 ml/100ml).
Tuy nhiên khi cho con dùng sữa ngoài, ba mẹ cũng nên chọn những loại sữa có chất lượng cao và có nhãn hiệu uy tín như Vinamilk để đảm bảo sức khỏe cho bé.
Vai trò Vitamin B5
Hiện nay, dường như từ axit panthotenic rất ít được người ta nhắc tới, thậm chí có người còn chưa từng biết đến nó, và càng không biết vai trò to lớn của nó trong quá trình trao đổi chất. Axit panthotenic hay còn được gọi là vitamin B5, là loại chất kết dính màu vàng, khi trong môi trường axit và môi trường kiềm dung dịch nước không ổn định với nhiệt độ, dễ bị phân huỷ thành nước.
Bởi vậy ở các cửa hàng, bệnh viện thường sử dụng muối canxi panthotenic để thay thế cho axit pan- thotenic. Canxi panthotenic là tinh thể không màu, dễ tan trong rượu 2 và nước. Canxi panthotenic ổn định trong không khí và ánh sáng, nhưng trong môi trường ẩm thấp dễ hút nước tạo thành khôi. Ngoài ra, rượu panthotenic nguyên chất được sinh ra từ axit panthotenic có độ ổn định cao hơn so với axit panthotenic, đồng thời nó có thể chuyển hóa thành axit panthotenic bên trong cơ thể, bởi vậy cũng thường là thành phần thuốc bổ sung vitamin tổng hợp.
Axit panthotenic tham gia vào quá trình hợp thành enzim trong thận, đồng thời hỗ trợ khả năng hấp thụ của các vitamin khác, giúp đỡ quá trình chuyến hoá năng lượng của lipit, protêin và gluxit. Axit panthotenic có khả năng tăng cường thể lực, phòng bệnh thiếu máu, bảo vệ bộ máy tiêu hoá hoạt động bình thường, có thể giảm trừ lo lắng, mệt nhọc và chữa trị bệnh stress.
Đối với người bình thường, do axit panthotenic đa phần tồn tại trong thực phẩm bởi vậy khả năng thiếu axit này là rất hiếm. Nhưng do quá trình chế biến và nấu nướng thức ăn cũng làm mất nhiều giá trị dinh dưỡng của nó nên đối với những người không hấp thụ đầy đủ những thực phẩm đơn thuần như protêin, lipit và hợp chất cacbonhydrat thì rất dễ dẫn đến tình trạng thiếu axit panthotenic, đồng thời cũng thường dẫn đến tình trạng thiếu các loại vitamin khác.
Trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để bổ sung vitamin B6?
Mặc dù cấu trúc vitamin B6 rất đơn giản nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hoạt động sinh lý bình thường và hoạt động sự sống của con người. Vitamin B6 còn được gọi là pyridoxine, là một loại vitamin nhóm B. Đây là tổ hợp hợp chất Nitơ, thuộc vào vitamin hoà tan trong nước, trên thực tế nó bao gồm ba loại chất diễn sinh là rượu pyridoxine, hydro pyridoxine, amin pyridoxine.
Chúng đều là chất tinh thể màu trắng. Vitamin B6 trong thức ăn có tính động vật đa phần tồn tại dưới hình thức hydro pyridoxine và axit photphoric, còn trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật lại tồn tại dưới hình thức kết hợp của rượu pyridoxine, amin pyridoxine, và axit photphoric cùng với hình thức glucogen. Các hình thức diễn sinh vitamin B6 đều có hoạt tính sinh vật giống nhau nhưng trong tác dụng sinh lý chủ yếu hình thức hydro pyridoxine và amin pyridoxine là phát huy tác dụng.
Tác dụng của vitamin B6
Vitamin B6 là vitamin tham gia nhiều nhất vào quá trình điều tiết chức năng cơ thể. Khi tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cơ thể con người nó có quan hệ mật thiết tới việc trao đổi các chất protêin, lipit, hydrocacbon, nó có thể có tác dụng trợ giúp não và phát huy hệ thống miễn dịch bình thường. Hình thức tăng trưởng của tế bào, phân chia DNA, chất di truyền RNA đều tham gia vào nhu cầu của vitamin B6.
Vitamin B6 còn có tác dụng tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể đối với các bệnh ung thư, phòng chống xơ cứng động mạch, bảo vệ cơ tim, phòng bệnh sỏi thận, bệnh thấp khớp, hen suyễn. Ngoài ra, vitamin B6 có thể kích hoạt các loại men, trợ giúp hấp thụ vitamin B12.
Lượng vitamin B6 thích hợp cần hấp thu mỗi ngày
Trong điều kiện bình thường, vitamin B6 rất hiếm khi bị thiếu hụt. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn chưa tiến hành công tác nghiên cứu trên lĩnh vực này, sau khi tham kháo kết quả nghiên cứu các nước Âu Mỹ, chúng tôi xem xét tới mô hình thực phẩm của nước ta, rồi đưa ra hàm lượng hấp thụ hợp lý (AL), và đã có được kết quả như bảng dưới đây.
Năm 1998, FNB của Mỹ đưa ra đánh giá UL của vitamin B6 là: 1~3 tuổi cần 30mg/ngày, 4 ~ 8 tuổi cần 40mg/ngày, 9~13 tuổi cần 60 mg/ngày, 14-17 tuổi cần 80 g/ngày, người trưởng thành cần 100mg/ngày. Sau khi xém xét tới bảng đánh giá kiến nghị trên, đưa ra đánh giá UL đối với trẻ em nước ta là 50 mg/ngày, người trưởng thành là 100mg/ngày.
Sự nguy hiểm khi cho trẻ s sinh sử dụng quá nhiều vitamin B6
Mặc dù vitamin B6 được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động lâm sàng, ví dụ như nó thường được dùng để chống nôn mửa, hoá giải co rút cơ bắp, tê liệt chân tay, lợi tiểu,... nhưng nếu dùng quá nhiều thì sẽ gây ra phản ứng ngược lại.
Các biểu hiện chính là các triệu chứng thần kinh như cảm giác bất thường (nghiêm trọng hơn vào buổi tối), tứ chi đặc biệt là chi trên phát triển nhiều hơn; bộ xương có màu xám của chớp điện, đau như bị kim châm, chi dưới phát triển. Cá biệt có người bệnh còn có biểu hiện tức ngực, rất dễ bị dị ứng, toàn thân đều có cảm giác như phát sốt hoặc như bị kiến bò.
Cũng có ít trường hợp người bệnh có thể thấy nhão cơ bắp, cơ bắp run rẩy, tê liệt phần mặt... Ngoài ra, nếu tiêm một lượng lớn vitamin B6, nhẹ thì có thể mắc bệnh thèm ngủ, nghiêm trọng hơn có thể gây ra sốc dị ứng. Tiếp tục tiêm trong một thời gian dài còn có thể trở thành bệnh mãn tính.
Nếu ngoài các bữa chính còn sử dụng thêm một lượng lớn vitamin B6 nữa (mỗi ngày bổ sung trên 250mg rượu pyridoxine) cũng gây ra hiệu ứng phụ thuộc vitamin B6.
Nguồn gốc thực phẩm chủ yếu của vitamin B6
Trong các loại thực phẩm thường gặp, các loại thực phẩm có chứa hàm lượng vitamin B6 phong phú bao gồm: con men, mạch phu, hạt hướng dương, đậu tương, gạo xay, chuối, gan và thận động vật, các loại cá, thịt nạc, vỏ quả cứng. Thông thường hàm lượng vitamin trong các loại trứng, yến mạch, hoa quả (ngoại trừ lê và chuối), các loại rau xanh đều rất thấp, trong khi đó trong phomat, mỡ, đường, sữa công thức, bánh bao chay thì hàm lượng vitamin B6 càng thấp hơn.
Trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để bổ sung vitamin B12
Cho đến thời điểm hiện tại, do vitamin B12 là loại vitamin hoà tan trong nước được phát hiện muộn nhất nên so với các vitamin C, vitamin E thì nó còn khá mới lạ đối với người dân.
Vitamin B12 là loại tinh thể hình kim có màu hồng xám, rất sễ bị hoà tan trong nước, nó ổn định nhất là trong môi trường axit yếu có nồng độ pH 4,5 ~ 5,0, còn trong môi trường axit mạnh, kiềm mạnh và ánh sáng trực tiếp thì rất dễ bị phân huỷ. Nếu tiếp tục ở trong môi trường nhiệt độ cao thì ở một mức độ nào đó vitamin B12 cũng rất dễ bị phân huỷ.
Còn nếu so sánh mức độ phân huỷ vitamin B12 ở nhiệt độ cao trong một khoảng thời gian ngắn thì độ phân huỷ chậm hơn.
Ví dụ: sữa công thức (60°C) trong vòng 2 ~3 giây sẽ mất đi 7% lượng vitamin B12 chứa trong nó, ở nhiệt độ sôi trong vòng 2 ~5 phút sẽ phá huỷ 3% lượng vita-min B12; tiệt trùng ở nhiệt độ 120°C trong 13 phút sẽ mất đi 77% vitamin B12, còn nếu tiệt trùng ở 143°C trong vòng 3 ~ 4 phút thì chỉ mất 10 % vitamin B12. Như vậy có thể thấy thời gian tăng nhiệt càng dài, nhiệt độ càng cao, tỷ lệ vitamin B12 bị mất đi càng nhiều.
Vai trò của vitamin B12 đối với cơ thể
Trong quá trình trao đổi chất của cơ thể, vitamin B12 có những tác dụng chủ yếu sau đây:
- Vitamin B12 thúc đẩy quá trình hợp thành axit amin, đặc biệt là axit amin protêin và axit amin ngũ cốc. Do nó có tác dụng quan trọng đối với việc hình thành hợp chất protein nên vitamin B12 là loại vitamin không thể thiếu được đối với quá trình phát dục sinh trưởng của trẻ em.
- Do có tác dụng thúc đẩy hình thành chất di truyền trong cơ thể con người nên nó có thể thúc đẩy sự phát triển và trưởng thành của hồng cầu, từ đó bảo đảm cho quá trình tạo máu được hoạt động bình thường, tránh tình trạng xuất hiện bệnh thiếu máu ác tính.
Lượng vitamin B12 thích hợp cần hấp thụ mỗi ngày
Theo các nghiên cứu khoa học cho biết, lượng vitamin B12 cần thiết tối thiểu cho việc duy trì hoạt động bình thường là 0,1 àg mỗi ngày. Do đó, các tổ chuyên gia của tổ chức lương thực thế giới (FAO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã khuyên một người bình thường nên hấp thụ 1àg vitamin B12 mỗi ngày. Thậm chí để bảo đảm sức khoẻ vào năm 1989 các nhà khoa học của Mỹ còn khuyên nên hấp thụ 2àg vitamin B12 mỗi ngày.
Mong rằng những thông tin trên sẽ giúp ích cho ba mẹ trong quá trình chăm sóc trẻ sơ sinh, cũng như hiểu rõ vai trò của các loại Vitamin cần thiết cho cơ thể của bé
Cảm ơn ba mẹ đã xem qua bài viết: Trẻ sơ sinh uống sữa gì tốt nhất để bổ sung vitamin nhóm B?









